Hướng dẫn sơ cứu khi bị bỏng nước sôi, bỏng lửa, bỏng điện, bỏng hóa chất

1. Bỏng là gì?

Bỏng là tổn thương do tác dụng trực tiếp của các yếu tố vật lý (nhiệt, bức xạ, điện…) hoặc yếu tố hoá học (acid, kiềm…) gây ra trên cơ thể. Da là bộ phận thường bị tổn thương nhất khi bị bỏng, kế đến là các lớp sâu dưới da (gân, cơ, xương, khớp, mạch máu, thần kinh) và một số cơ quan nội tạng (đường hô hấp, ống tiêu hoá, bộ phận sinh dục…).

Tình trạng của cơ thể khi bị bỏng phụ thuộc vào 3 yếu tố:

– Độ sâu của bỏng.
– Diện tích của vết bỏng.
– Vị trí của vết bỏng trên cơ thể.

Độ sâu của bỏng: Được chia làm 4 cấp độ

Cấp độ 1 – bỏng bề mặt: Trường hợp này chỉ lớp ngoài cùng da bị tổn thương làm cho da nơi bị bỏng đỏ ửng lên và đau rát do đầu mút đây thần kinh bị kích thích. Loại bỏng này thường lành hẳn sau 3 ngày.
Cấp độ 2 – bỏng một phần da: Trường hợp này thì lớp biểu bì và một phần của lớp chân bì bị tổn thương, các túi phỏng nước được hình thành, nếu các túi phỏng nước vỡ ra sẽ để lộ một bề mặt màu hồng và cũng rất đau. Nếu được giữ sạch vết bỏng sẽ tự lành sau khoảng 1-4 tuần không cần điều trị gì mà cũng không để lại sẹo hoặc sẹo nhưng không đáng kể. Nếu bỏng độ II bị nhiễm khuẩn thì lớp da dưới sẽ bị phá hủy và bỏng độ II chuyển thành bỏng độ III.
Cấp độ 3 – Bỏng liên quan đến lớp biểu bì, hạ bì và tiếp cận các mô bên dưới chúng (mô dưới da). Da có thể xuất hiện cứng, sáp màu trắng hoặc tan. Bỏng độ ba có thể phá hủy dây thần kinh.
Cấp độ 4 – Tổn thương vượt ra ngoài mô dưới da và vào các dây thần kinh, cơ bắp và xương nằm bên dưới. Da có thể xuất hiện đen hoặc cháy. Nếu thần kinh thiệt hại đáng kể, có thể cảm thấy không đau.

Diện tích của vết bỏng: Việc ước tính cẩn thận rất quan trọng bởi vì thể tích dịch bồi phụ (dịch để bồi phụ nước và điện giải) dựa vào việc đánh giá này và nếu đánh giá sai diện tích tổn thương có thể dẫn tới bồi phụ dịch không phù hợp. Hơn nữa, các tiêu chuẩn để chuyển bệnh nhân tới đơn vị bỏng tùy thuộc vào diện tích tổn thương bỏng. Nói chung, chỉ có bỏng độ 2 và độ 3 là cần được tính toán tỷ lệ phần trăm diện tích da toàn bộ cơ thể bị bỏng. Để có thể hình dung cơ bản việc tính toán phần trăm tổn thương của bỏng bạn có thể xem hình dưới đây.

Vị trí của vết bỏng trên cơ thể: Bỏng ở những vùng khác nhau cũng có ý nghĩa rất lớn đối với tính mạng và quá trình hồi phục.

– Bỏng ở vùng mặt, cổ có thể gây phù nề chèn ép đường thở dễ bị sẹo xấu và sự biến dạng.
– Bỏng ở mắt có thể dẫn đến mù.
– Bỏng ở bàn tay hoặc vùng các khớp có thể dẫn đến co cứng, mất hoặc giảm chức nǎng hoạt động…
– Bỏng vùng lưng, vùng hậu môn sinh dục và những vùng gần hậu môn sinh dục thường có nguy cơ nhiễm khuẩn cao, kéo dài thời gian lành vết bỏng.
– Nếu nạn nhân hít phải khói, hơi nóng thì có thể gây bỏng đường hô hấp làm phù nề đường hô hấp, gây tắc nghẽn dẫn đến suy hô hấp và rất dễ dẫn đến viêm phổi…

2. Xử trí thế nào khi bị bỏng?

– Đưa nạn nhân khỏi nguồn gây bỏng. Với bỏng do lửa thì dập lửa bằng cách lăn tròn hoặc dùng chăn dầy để bịt kín, không nên chạy vì nó làm cho lửa cháy lớn hơn. Bỏng điện cũng vô cùng nguy hiểm, khi phát hiện phải nhanh chóng cắt điện hoặc dùng vật cách điện (bao tay, que, gậy khô) ngắt điện…

– Xé bỏ phần quần áo đang cháy âm ỉ hoặc bị thấm đẫm nước nóng, dầu hay các dung dịch hóa chất nếu ngay sau đó không có nước lạnh để dội vào vùng bỏng. Cần lưu ý để việc xé bỏ này không làm lột, rách da người bị bỏng.

– Nếu là bỏng lửa, bỏng hóa chất

  • Nhanh chóng để vùng bị bỏng ngâm vào chậu nước nguội sạch hoặc đưa vùng bỏng vào dưới vòi nước và xả nước cho vòi chảy nhẹ nhàng trong khoảng 15-20 phút, việc làm này sẽ giúp vết bỏng được dịu bớt đau rát, giảm sưng, giảm độ sâu của vết bỏng và làm sạch vùng bị bỏng tránh các viêm nhiễm.

– Nếu là bỏng do hóa chất

  • Cần trung hòa hoá chất gây bỏng. Trung hòa axit bằng dung dịch Natri bicacbonat 10-20%, nước xà phòng, nước vôi nhì 5%. Có thể dùng bột phấn viết, xà phòng đánh răng, bột hydroxyt magie rắc hoặc xoa trên tổn thương bỏng.
  • Trung hòa base bằng axit axetic 6%, dung dịch amoniclorua (NH4Cl) 5%, axit boric. Nếu không có dung dịch trên dùng nước dấm, nước chanh, nước đường 20%.

– Nếu là bỏng điện

  • Đưa bệnh nhân nằm trên nền nhà cứng để cơ thể giải phóng điện tích ở các mô.
  • Sau đó kiểm tra xem người bệnh còn thở không, tim đập không? nếu không thì làm hô hấp nhân tạo, ép tim ngoài lồng ngực để nạn nhân lấy lại hơi thở và nhịp tim.
  • Đề phòng sốc khi đang sơ cứu cho nạn nhân bằng cách để nạn nhân đầu thấp kê cao chân.

– Che phủ nhẹ nhàng vùng bỏng với khăn sạch hoặc khăn vô trùng.

– Nhẹ nhàng tháo bỏ những vật cứng trên vùng bỏng như giầy, dép, vòng bạc trước khi vết bỏng sưng nề.

– Cho nạn nhân uống nước chè đường hoặc oreson vì nạn nhân rất khát nhất là khi phải chuyển nạn nhân đi xa.

– Dùng gạc vô khuẩn hoặc miếng vải sạch băng vùng bị bỏng lại, tránh bụi bẩn vào vết bỏng.

– Dùng thuốc giảm đau cho nạn nhân, dùng aspirin: Khi dùng thuốc giảm đau phải chú ý nếu nghi ngờ nạn nhân có chấn thương bên trong thì không được dùng thuốc giảm đau, an thần mạnh.

– Nhanh chóng đưa đến cơ sở y tế gần nhất để được điều trị tốt nhất.

3. Một vài lưu ý
– Không dùng nước đá, nước quá lạnh để làm mát vết bỏng
– Tuyệt đối không được bôi bất cứ thứ gì vào vết bỏng như muối, mỡ trăn, kem đánh răng … điều này sẽ khiến vết bỏng trở nên trầm trọng hơn, dễ bị viêm nhiễm nặng hơn.
– Không làm trơn loét vết bỏng. Nếu vùng bỏng lớn thì không nên cởi bỏ quần áo khiến bị lột da vùng bỏng, nên nhanh chóng dùng kéo cắt áo quần ra tách khỏi vết bỏng tránh việc áo quần dính chặt vào vết bỏng khiến vết bỏng bị đau rát, dễ viêm nhiễm.
– Duy trì đường hô hấp cho nạn nhân, nhất là khi bị kẹt trong nhà bị cháy mà ở đó có dầu, đồ đạc, bàn ghế, đang bốc cháy… thì sẽ nhanh chóng bị phù mặt và cổ và các biến chứng của đường hô hấp do hít phải khói hơi.
– Bản thân vết bỏng là vô khuẩn. Do vậy khi cấp cứu bỏng phải rất thận trọng để tránh vết bỏng bị nhiễm bẩn.

This entry was posted in Kỹ năng mềm. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

:1: :2: :12: :46: :59: :51: :38: :31: :22: :15: :8: more »